Sản xuất giống lúa Japonica trên thế giới

GẠO JAPONICA  

 Là loại gạo chính của nhiều nước trên thế giới: Bắc Triều Tiên, Đại Hàn, Nhựt Bổn, Trung Quốc và Ai Cập và lở Trung Đông gồm Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Iraq, Morocco, Syria..., ở Nam Mỹ như Argentina, Chile và các nước tiến bộ Âu Mỹ.

  GIỐNG LÚA JAPONICA

 Chỉ được trồng ở các vùng ôn đới hoặc những nơi có nhiệt độ thấp ở miền núi cao của Vân Nam (Trung Quốc), Nepal, Burundi, Rwanda và Madagascar, nên được gọi lúa japonica ôn đới. Về phương diện di truyền, còn có một loại gần giống lúa japonica được trồng trên các vùng đồi núi (lúa rẫy); đó là lúa Japonica nhiệt đới, còn gọi lúa javanica, loại lúa trung gian giữa japonicaindica, được trồng ở đảo Java và Sumatra của Indonesia. Vì địa dư hạn hẹp của vùng ôn đới, lúa japonica chỉ giữ vai trò khiêm nhường trên thế giới, về sản xuất và thị trường tiêu thụ. Nhờ Hiệp Ước GATT, sản xuất lúa japonica của Trung Quốc đã tăng lên rất nhiều, từ 11% trong 1980 lên 29% tổng số diện tích lúa toàn quốc trong 2000 (Crook et al., 2002), để cung cấp cho thị trường Đại Hàn và Nhat Ban.

 

     GIỐNG LÚA JAPONICA  

 Được trồng trong điều kiện thâm canh tưới tiêu và dùng nhiều nhập lượng trợ nông, nhứt là phân hóa học và thuốc diệt cỏ. Phần lớn loại lúa này được cơ giới hóa hoàn toàn hoặc bán phần. ở Nhat Ban, Đại Hàn và Đài Loan, ngành canh tác lúa được thực hiện dưới hình thức trang trại nhỏ với các máy móc, công cụ nhỏ, chẳng hạn, máy cày, máy cấy bằng tay. Các nước công nghệ khác như Mỹ, Brazil, Uruguay, Venezuela, Argentina, Pháp, ý, Tây Ban Nha, v.v., canh tác lúa đai qui mô, với các trang trại từ 10 đến trên 1.000 ha và cơ giới hóa từ khâu làm đất đến bảo quản và tồn trữ. Do đó, giá thành sản xuất của loại lúa này tương đối cao. Hầu hết ngành sản xuất lúa japonica được chính phủ bao cấp rất lớn không những ở khâu sản xuất mà còn cả thị trường.

Ngành nghiên cứu lúa japonica dẫn đầu thế giới, tiến bộ hơn lúa indica vì được canh tác trong các nước tiến bộ có đủ điều kiện vật chất; tuy nhiên, không có một cơ quan chính thức để điều hợp các công tác nghiên cứu về loại lúa này trên thế giới.  

 

GIỐNG LÚA JAPONICA VÀ INDICA

Hai giống lúa indicajaponica chiếm gần hết tổng diện tích trồng lúa trên thế giới và 100% ở châu á. Từ đầu thế kỷ XX, các nhà khoa học đã cố gắng phân loại lúa đang trồng của loài sativa, bằng phương pháp quan sát, đo đếm, thiếu tính chất khoa học. Mãi cho đến giữa thập niên 1980s, với phát triển và sáng tạo các kỹ thuật cấp cao, các nhà khoa học áp dụng kỹ thuật nghiên cứu cấp tế bào để xếp loại lúa, nên các công trình phân tích, đánh giá và phân loại được chính xác hơn và nhiều người chấp nhận hơn.

 Nhiều chuyên gia cho rằng cây lúa xuất hiện ở vùng chân núi Hymalaya và một số trung tâm khác và sau đó trải qua quá trình tiến hóa với ba đường lối khác nhau: (i) cây lúa japonica từ phía bắc chân núi Hymalaya di chuyển đến Trung Quốc và Triều Tiên, (ii) cây lúa di chuyển từ trung tâm lúa trồng nguyên thủy ở miền tây nam Trung Quốc và miền Thượng du Bắc Việt tiến về phương bắc Trung Quốc dưới loại indica để rồi tiến hóa thành lúa japonica thích nghi với khí hậu lạnh của vùng ôn đới, và (iii) cây lúa indica di chuyển về phía nam và tiến hóa thành japonica nhiệt đới (javanica) ở Indonesia. Hiện nay, Trung Quốc canh tác độ 8,8 triệu ha lúa Japonica ở các tỉnh miền bắc.

 Đến nay, chưa có một đặc tính hình thể nào hoặc lề lối canh tác nào để có thể phân biệt khi quan sát hai loại lúa japonicaindica ở ngoài đồng ruộng. Japonica là loại lúa lùn hoặc nửa lùn, thân cứng, lá hẹp, thẳng đứng và xanh đậm, nhiều chồi, phản ứng đạm cao và có năng suất cao hơn lúa indicajavanica. Hạt lúa japonica thường ngắn và to có hàm lượng amylose thấp hơn (14-20%), khi nấu chín hạt cơm ướt, dính nhau và có dáng tròn hơn cơm indica. Trong khi hạt lúa indica dài, thon hơn và có hàm lượng amylose cao (>20%) và sau khi nấu chín: hạt cơm khô, rời nhau, nở to, dài và thon hơn. Sự thuần hóa, môi trường, tuyển chọn cho thích ứng với khẩu vị và ưa chuộng của con người đã giúp cho cây lúa tiến hóa xa hơn nữa về mùi thơm, ít chất amylose hơn như gạo nếp (1-10% amylose) và gạo dẽo (waxy rice) (0% amylose).

Sự khác biệt giữa hai loại lúa này còn được tìm thấy trong một số tính chất nông học như: lúa japonica chịu đựng nhiệt độ thấp hơn, kháng đổ ngã, ít chịu được hạn khô, khả năng cạnh tranh với loài thảo mộc bên cạnh cao hơn, sự mọc mầm và sức tăng trưởng của mạ đối với nhiệt độ thấp mạnh hơn, tuổi thọ của hạt lúa dài hơn, và lá lúa có hiệu năng quang hợp cao hơn, với cùng hàm lượng protein

 

Bảng 1: Các đặc tính căn bản của lúa japonica và lúa indica

 
 

Đặc tính

 

Lúa japonica

 

Lúa indica

Hình dáng và màu lá

Hẹp và xanh đậm

Rộng và xanh nhạt

Góc độ lá cờ và nhánh

Rộng

Nhỏ

Chiều dài của thân

Ngắn

Dài

Ngã đổ của cây lúa

Khó ngã đổ

Dễ đổ ngã

Hạt rụng

ít rụng

Rụng nhiều

Hình dáng hạt

Rộng và thô và mặt cắt tròn

Dài, hẹp và thon

Đuôi trấu

Hầu hết không có đuôi, nhưng ít giống lúa có đuôi ngắn

Có đuôi với chiều dài khác nhau

Tỉ lệ chiều dài/rộng của hạt

2,5 hoặc ít hơn

2,5 hoặc lớn hơn

Sức nẩy mầm

Chậm

Nhanh

Phản ứng Phenol

Âm

Dương

Chống chịu nhiệt độ thấp

Cao

Dễ bị ảnh hưởng

Chống chịu hạn

Thấp

Cao

Năng suất tiềm thế

Cao hơn

Thấp hơn

Nguồn: Tiếp nhận từ Matsuo, 1997

 

  Phương pháp xếp loại cổ truyền:

 Vào năm 1928, Kato et al. đã báo cáo rằng có hai loại lúa trên thế giới và đặt tên là lúa india ở vùng nhiệt đới và lúa japonica ở vùng ôn đới. Vào năm 1952, Matsuo căn cứ trên hình dạng của cây mà xếp loại thành 3 nhóm A, B và C và sau đó được đối chiếu với japonica, javanicaindica. Năm 1958, Oka xếp loại 147 giống lúa ở châu á thành hai loại, tên là lúa “Lục địa” và lúa “quần đảo”, sau đó được đối chiếu với indiajaponica. Ông căn cứ vào một số đặc tính chính như chiều dài của đuôi, phản ứng rượu phenol của hạt, kháng KClO3 và chống chịu nhiệt độ thấp và hạn hán. Phương pháp xếp loại lúa này có tính chất tổng quát và dựa vào khảo sát vật lý nên không đi sâu vào cấp độ tế bào để được chính xác hơn.

  Jacquot và Atanud (1979) nghiên cứu về vị thế của lúa rẫy liên hệ đến xếp loại theo hình dạng japonica (A), javanica (B) và indica (C), đã được tìm thấy trước kia bởi Matsuo (1952).  Ngoài ra, sự xếp loại IRRI-IBPGR (1980) hầu hết căn cứ vào hình thể và phân biệt ra ba loại cây đã mô tả bởi Matsuo (1952) thêm vào “loại lai.”

 Chang (1979) cho biết rằng sự xếp loại lúa cổ xưa ở Trung Quốc gồm loại Hsien (indica) và Keng (japonica) có thể được dùng cho tất cả lúa ở châu á. Những đặc tính chính được dùng để phân loại này gồm có hình dạng hạt, phản ứng phenol, lông của trấu, lông của lá, khoảng cách giữa hai mắc của trục gié lúa và màu vỏ lúa khi trổ bông. Các nhà khoa học Trung Quốc đề nghị dùng tên Hsien và Keng vì indica và japonica ám chỉ về sự phân phối địa dư, không thích ứng với tình trạng hiện tại, nhưng đề nghị này chưa được các nhà khảo cứu trên thế giới chấp nhập rộng rãi, vì sự thay đổi danh từ không giúp thêm lợi ích cho người dùng.  

 

Xếp loại lúa theo Glaszmann:

 Phương pháp xếp loại lúa này có tính cách khoa học và chính xác hơn, càng ngày được nhiều nhà khoa học dùng đến.  Glaszmann (1987) đã nghiên cứu trên 1.688 giống lúa cổ truyền của châu á bằng cách dùng đến 15 polymorphic loci làm mã số cho 8 enzymes. Sự biến đổi của enzyme được khám phá bằng sự phân giải điện tử chất tinh bột (starch gel electrophoresis) đã được dùng để nghiên cứu cấu trúc di truyền của các loài O. sativa, L. Phân tích thống kê các kết quả khảo cứu thu thập được cho phép nhận diện 6 nhóm giống lúa với hai nhóm chính: nhóm I và nhóm VI. Nhóm I tượng trưng cho các giống indica ở vùng nhiệt đới và nhóm VI  dành cho lúa japonica, được tìm thấy hầu hết ở vùng ôn đới và những nơi có cao độ. Giữa hai nhóm này có các nhóm khác như nhóm IV và V thì gần với nhóm VI (japonica), trong khi nhóm II và III gần với nhóm I (indica).



 

Xếp loại lúa theo Mackill:

Mackill (1995) nhận thấy đánh dấu DNA (RAPD) random amplified polymorphic) rất tiện dụng để xếp loại các giống lúa japonica thành japonica ôn đớijaponica nhiệt đới (javanica). Ông đã tìm thấy rằng khoảng cách giữa japonica ôn đớijaponica nhiệt đới  ít hơn giữa indica japonica.  

 Mặc dù sự khác biệt về khí hậu và tình trạng nhiệt độ ở các vùng trồng lúa còn tồn tại, sự phân biệt giữa các giống lúa indica japonica đã dần dần trở nên ít đi do sự lai tạo giữa hai nhóm lúa này ngày càng được dùng nhiều trong các chương trình lai tạo giống mới. ở nhiều nơi lúa japonicaindica được trồng lẫn lộn nhau trong những vùng rộng lớn như ở vùng Bắc Trung Quốc, tạo ra cơ hội cho những tạp giao chéo và những giống trung gian của hai nhóm lúa này. Cho nên, tạp giao đã gây ra nhiều khó khăn cho công tác xếp loại lúa chính xác.    

 

  Sự so sánh về hệ thống và phương tiện sản xuất cũng như tình trạng kinh tế của nông dân giữa hai lề lối trồng lúa chính trên thế giới cho loại lúa japonicaindica được ghi nhận ở Bảng 2. Nông dân trồng lúa japonica ôn đới rất giàu, có trình độ kỹ thuật cao và khí hậu thuận lợi, do đó năng suất cao; trong khi người trồng lúa indica còn nghèo khó và trình độ kỹ thuật tương đối kém hơn, nên năng suất thấp hơn. Phương pháp trồng lúa japonica ôn đới được cơ giới hóa hoàn toàn, tưới tiêu và chăm sóc kỹ lưỡng, có tính cách thâm canh cao và được khai thác đại qui mô, ngoại trừ Nhat Ban, Đại Hàn và Ai Cập. Trong khi trồng lúa indica ít được cơ giới hóa, ít được thâm canh triệt để, nhứt là loại lúa nhờ nước trời, phần lớn khai thác dưới hình thức tiểu qui mô. Tuy nhiên, nông dân trồng lúa indica có khí hậu ấm áp quanh năm, nên có thể khai thác triệt để đất đai với 2, 3 vụ lúa hoặc lúa – hoa màu khác mỗi năm ở những nơi có đủ nước và điều kiện khai thác.  

 

Bảng 2: So sánh các đặc tính của sản xuất lúa japonica và lúa indica

 
 

Đặc tính

 

Lúa japonica

 

Lúa Indica

 

Châu Âu & châu Mỹ

 

Nhựt Bổn & Đại Hàn

Khí hậu

- Ôn đới và cận nhiệt đới

- Mùa hè, nắng, khô, ngày dài và đêm mát

-  Lúa  thường bị lạnh (<15oC)

- Nhiệt đới

- Mùa hè, nắng, khô, ngày dài và đêm mát

-  Lúa  thường bị lạnh

(<15oC)

Trồng lúa quanh năm.  Mùa mưa ẩm ướt, mùa hè khô khan, đêm ít khi mát

- Lúa bị nóng (>40oC) ở vùng sahel

Lúa rẫy

Không có

ít

Phương pháp canh tác

Cơ giới hóa đại qui mô

Cơ giới hóa nhỏ

Cơ giới hóa không hoàn toàn hoặc bằng lao động

Diện tích trồng lúa mỗi hộ

10 - >1.000 ha

0,2 - 0,5 ha

0,2 - 5 ha

Phương pháp trồng lúa

Sạ thẳng

Cấy

Cấy hoặc sạ thẳng

Vụ mùa

Một vụ mỗi năm

Một vụ mỗi năm

Một đến 3 vụ mỗi năm

Sử dụng phân hóa học

Cao (150 kgN/ha)

Cao (150 kgN/ha)

Thấp hơn (60-100 kgN/ha)

Tưới tiêu

Hoàn toàn

Hoàn toàn

Không có, một phần hoặc

hoàn toàn

Sâu bệnh

It xảy ra:bệnh cháy lá, ít hoặc không có côn trùng phá hại

It xảy ra: bệnh cháy lá, ít hoặc không có côn trùng phá hại

Xảy ra nhiều và thường xuyên: bệnh cháy lá, cháy bìa lá; rầy nâu, sâu đục thân, sâu cuốn lá

Cỏ dại

Rất quan trọng, có lúa đỏ

Quan trọng

Quan trọng, có lúa đỏ (khi sạ)

Hậu thu hoạch

- It thất thoát: 5-10%

- Nhiều nông dân có cả kho vựa và nhà máy xay chà

- It thất thoát: 5-10% - Nông dân và chủ các nhà máy xay chà khác nhau

- Thất thoát nhiều: 15-30%
- Nông dân và chủ các nhà máy xay chà khác nhau.

Thị trường

Rất nhỏ

Rất nhỏ

Rất lớn

Năng suất bình quân

6 - 9 t/ha

6 - 8 t/ha

2 - 6 t/ha

Sử dụng sức lao động

Rất ít: từ 3 giờ-10 ngày công/ha

Nhiều: 50-60 ngày công/ha

Rất nhiều (50-250 ngày công/ha)

Giá thành sản suất/ha

Cao

Rất cao

Thấp hơn

Hiệu năng sản xuất

Cao

Cao

Thấp hơn

Ô nhiễm môi trường

ít hơn

ít hơn

Nhiều hơn

Trình độ nông dân

Tiến bộ

Tiến bộ

Kém tiến bộ

Tình trạng kinh tế của nông dân

- Nông dân giàu

- Có trợ cấp nhiều

- Nông dân có mức sống kinh tế cao

- Có trợ cấp nhiều

- Đa số nông dân trồng lúa nghèo

- Có trợ cấp ít hơn

 

 Theo phương pháp xếp loại mới, lúa japonica gồm có hai loại: japonica ôn đới  japonica nhiệt đới. Lúa japonica nhiệt đới còn gọi là lúa javanica hay lúa bulu, gốc ở Indonesia. Theo nghiên cứu của Glaszmann (1987), đa số lúa rẫy và lúa nếp ở Đông Nam á thuộc vào nhóm lúa japonica nhiệt đới. Do đó, số liệu thông tin về lúa japonica trên thế giới gồm có lúa japonica ôn đới, javanica và lúa rẫy thế giới (độ 80%), ngoại trừ ấn Độ và Bangladesh. Tổng quan, lúa japonica chiếm độ 17% tổng diện tích trồng lúa thế giới hay 26 triệu ha, trong đó 11% là lúa japonica ôn đới và 6% là lúa japonica nhiệt đới. Với khuynh hướng toàn cầu hóa, lúa japonica ôn đới có triển vọng mở rộng thị trường lớn ở các nước Âu Mỹ, đặc biệt ở Nhựt Bổn, Đại hàn và Đài Loan. Còn japonica nhiệt đới có tương lai không sáng sủa lắm vì đa số thuộc lúa rẫy được trồng trong điều kiện nước trời.

 Theo FAO và UNESCO soil world map (1979), khí hậu trên thế giới gồm có các vùng ôn đới, nhiệt đới, cực và bắc cực (Boreal).  Sản xuất lúa gạo trên thế giới được thực hiện ở vùng ôn đới, cận nhiệt đới và nhiệt đới mà thôi, còn các vùng còn lại quá lạnh hoặc quá nóng (sa mạc) không thích hợp cho loại thảo mộc này.  

 

  GIỐNG LÚA JAPONICA thường cho năng suất cao hơn lúa indica nhờ trồng một vụ trong mùa hè với điều kiện khí hậu thuận lợi hơn: nhiều ánh sáng (ít mây che), ngày dài, nhiệt độ ban đêm thấp và có thời gian ngậm sữa hay làm đầy hạt (grain filling period) dài đến 45-60 ngày (lúa indica chỉ từ 25-35 ngày). Những điều kiện tối hão này giúp cho hiệu năng quang hợp cao, làm cho lúa japonica có cơ hội đạt đến năng suất tiềm thế cao hơn lúa indica. Cho nên, lúa trồng ở Ai Cập, úc và Bang California hiện có năng suất bình quân cao nhứt thế giới 9-10 tan/ha trong điều kiện khí hậu ôn đới và Địa Trung Hải.

Hiện nay, số lượng sản xuất của lúa japonica (gồm cả ôn đới và nhiệt đới) không có thông tin thống kê chính xác, nhất là số lượng lúa japonica nhiệt đới. Mackill (1995) cho biết rằng diện tích trồng lúa japonica ôn đới có thể chiếm độ 10% diện tích trồng lúa trên thế giới, căn cứ vào thông tin của IRRI ở Philippines. Ông ta nêu giả thuyết rằng diện tích trồng lúa japonica nhiệt đới có thể gần giống với diện tích của lúa rẫy trên thế giới, trừ bớt đi vài triệu hecta lúa rẫy indica. Do đó, diện tích của lúa japonica trên địa cầu này có thể chiếm đến 20% tổng số diện tích của lúa các loại, hay khoảng 30 triệu ha. Theo ước đoán gần đây diện tích trồng lúa japonica thế giới có thể gần 26 triệu ha, trong đó có 16,7 triệu ha japonica ôn đới và 8,8 triệu ha japonica nhiệt đới

Trong 2 thập niên qua (kể từ 1984), sản xuất lúa japonica tăng gia đáng kể do diện tích trồng và năng suất cải tiến, đặc biệt ở lúa japonica ôn đới. Diện tích của loại lúa này tăng từ 11 lên 16,7 triệu ha, hay 52%; và năng suất tăng từ 4 lên 6 tan/ha (Bảng 3). Trong khi đó, lúa japonica nhiệt đới không thay đổi nhiều vì phần lớn là loại lúa rẫy, ngoại trừ Brazil. Hầu hết diện tích trồng lúa trong các nước hoặc vùng ôn đối đều tăng gia, chẳng hạn Ai Cập tăng 54% kể từ 1984, Tây Ban Nha 50%, Mỹ 34%, Trung Quốc 29%, ý 18%; trong khi đó, Nhat Ban và Đại Hàn giảm 29% và 24%, theo thứ tự, do ảnh hưởng mở cửa thị trường nhập khẩu dưới áp lực của Hiệp Ước GATT. Sản xuất lúa Japonica ở các nước Nga và Đông Âu giảm sút rõ rệt trong thời kỳ chuyển tiếp từ kinh tế tập trung qua kinh tế thị trường từ 1990. Khuynh hướng trên còn tiếp tục trong thập niên 2000s và tùy vào mức độ hội nhập kinh tế toàn cầu, chủ yếu vấn đề chính sách và bao cấp của các nước tiến bộ.

 Vào giữa thập niên 1990s, Thái Lan, với sự hợp tác của các chuyên gia Nhựt Bổn, đã thử nghiệm và sản xuất lúa japonica ở vùng Chieng Mai để xuất khẩu qua Nhựt. Từ 1991, các chuyên gia lúa gạo Philippines thử nghiệm giống lúa MS 11 (IR68333-R-RB-22) do hợp tác giữa IRRI và Đại Hàn, nhằm đáp ứng thị trường đòi hỏi gạo “đặc biệt” ở các siêu thị và các cửa hàng “miễn thuế”. MS 11 là giống được lai tạo giữa Jimmibyeo (japonica) và Cheolweon 46 (indica) (Pablico, 2004).


 GIỐNG LÚA JAPONICA VÙNG ÔN ĐỚI

Trong 2004, sản lượng lúa japonica ở vùng có khí hậu ôn đới và cận nhiệt đới chiếm đến 100 triệu tấn, hay gần 17% của tổng số lượng lúa trồng trên thế giới, trên 16,7 triệu ha.  Năng suất bình quân cao 6 t/ha (Bảng 3). Châu á trồng nhiều loại lúa này nhứt với 13,5 triệu ha, sau đó là Châu Mỹ 1,5 triệu ha, châu Âu 876.000 ha và châu Phi 666.000 ha (chủ yếu Ai Cập). Những nước trồng lúa japonica chính trên thế giới gồm có Trung Quốc (miền bắc), Nhật Bổn, Mỹ, Đại Hàn, Bắc Hàn, Ai Cập, Italy, úc, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Argentina, Chile, Liên Bang Nga và một số nước Đông Âu. ở châu á, Trung Quốc lợi dụng Hiệp Ước GATT thúc đẩy chương trình sản xuất lúa japonica để xuất khẩu sang Nhat Ban và Đại Hàn. Mỹ và úc cũng đang ráo riết cạnh tranh chiếm thị trường nhập khẩu ở hai nước này, nhưng kém lợi thế hơn Trung Quốc do giá thành sản xuất cao hơn và họ ở xa hơn. Sản xuất lúa ở châu Âu sẽ giảm dần, nhưng chậm chạp, tùy theo chính sách và tình hình chính trị của khối Liên Âu.

 

GIỐNG LÚA JAPONICA VÙNG NHIỆT ĐỚI

Theo Glaszmann (1987), hầu hết lúa rẫy ở vùng Đông Nam á là loại lúa japonica nhiệt đới; nhưng cũng còn tìm thấy ở châu Phi và châu Mỹ La Tinh. Theo nghiên cứu của ông Glaszmann, ít nhứt 80% lúa rẫy ở vùng có khí hậu nhiệt đới, ngoại trừ ấn Độ và Bangladesh, thuộc loại lúa japonica nhiệt đới. Diện tích thu hoạch lúa rẫy ở vùng nhiệt đới ước lượng độ 8,8 triệu ha hoặc gần 5% diện tích trồng lúa trên thế giới trong giữa thập niên 1990s. Năng suất bình quân của loại lúa này thấp, độ 1 t/ha (ngoại trừ Brazil 2-3 t/ha). Những nước trồng lúa rẫy japonica nhiệt đới quan trọng như Brazil, Bolivia, Indonesia, Nigeria, Côte d’Ivoire, Cộng Hòa Dân Chủ Congo, Guinea, Trung Quốc, Việt Nam, Myanmar, Lào, Philippines, Thái Lan (Bảng 4). Triển vọng sản xuất của loại lúa rẫy này không sáng sủa lắm, có khuynh hướng sút giảm do vấn đề kỹ thuật (năng suất thấp) và kinh tế xã hội (nông dân nghèo khó, vùng núi non hoặc hẻo lánh)  (Xem thêm Chương VI: Lúa rẫy thế giới). ở xứ Lào và miền đông bắc của Thái Lan (gốc người Lào), phần lớn lúa trồng là loại nếp có hàm lượng amylose từ 0 đến 10%.

 

      Bảng 3: Uớc lượng sản xuất lúa japonica ở vùng ôn đới và cận nhiệt đới

 
 

Quốc gia

 

Diện tích 2004 (ha)

 

Diện tích

1984 1/ (ha)

 

Năng suất, 2004

(t/ha)

 

Sản lượng

(tấn), 2004

Châu Phi

 

Ai Cập

630.000

408.437

9,52

6.000.000

Morocco

2.300

1.367

7,34

16.900

Nam Phi

1.400

1.300

2,28

3.200

Burundi

19.500

4,677

3,31

64.530

Rwanda

13.000

2.560

3,55

46.190

Cộng

666.200

418.341

5.20

6.130.820

 

Châu Mỹ

       

Argentina

172.000

109.745

6,16

1.060.000

Chile

24.900

36.277

4,62

115.000

Mỹ

1.349.240

1.006.750

7,58

10.227.960

Cộng

1.546.140

1.152.772

6,12

11.402.960

 

Châu á

 

Trung quốc*

8.800.000

3.673.000

6,35

55.880.000

Nhựt Bổn

1.650.000

2.130.000

6,91

11.400.000

Bắc Hàn

583.000

645.000

4,06

2.370.000

Đại Hàn

990.000

1.232.037

6,41

6.351.000

Iran

570.000

449.865

5,96

3.400.000

Iraq

-

-

-

-

Cộng

13.593.000

8.129.902

5,94

85.751.000

 

Châu Âu

 

Azerbijan

3.500

 

5,71

20.000

Bulgaria

3.000

14.818

5,00

15.000

Pháp Quốc

21.000

9.133

5,62

118.000

Hy Lạp

22.000

15,620

7,95

175.000

Hungary

2.200

12.372

4,54

10.000

ý

215.000

182.805

6,28

1.350.000

Kazakhstan

73.000

 

3,79

276.660

Kyrgyzstan

6.500

 

4,61

30.000

Macedonia

3.200

 

4,69

15.000

Bồ Đào Nha

26.000

28.896

5,61

146.000

Romania

350

37.700

0,86

300

Liên bang Nga

143.000

670.0332/

3,36

480.000

Tây Ban Nha

121.100

62.794

7,45

902.000

Thổ Nhĩ Kỳ

80.000

64.576

5,00

400.00

Turkemenistan

60.000

 

2,83

170.000

Ukraine

37.000

 

4,59

170.000

Uzbekistan

60.000

 

4,65

279.000

Yogoslavia, SFR

 

9.086

   

Cộng

876.850

1.107.844

4.85

4.556.960

úc

65.000

105.946

8,23

535.000

 

TổNG CộNG

 

16.747.190

 

10.914.805

 

6.07

 

107.841.740

         
 

Nguồn: FAO STAT 2005

 

     THỎA THUẬN HIỆP ƯỚC  GATT

Hiện nay, lúa japonica chiếm một vị trí rất khiêm nhường trên thị trường thế giới. Vào năm 2003, số lượng gạo xuất khẩu lên đến 5,7 triệu tấn, chiếm hơn 20% của thị trường thế giới (FAO, 2004). Các nước xuất khẩu gạo japonica gồm có Trung Quốc, Mỹ Quốc, Ai Cập, úc, ý, Tây Ban Nha và Hy Lạp. Các nước nhập  khẩu gạo japonica gồm có Nhật Ban, Bắc Triều Tiên, Đại Hàn, Pháp Quốc, Anh Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Bồ Đào Nha, v.v.

 Trong thời đại toàn cầu hóa, sản xuất và thị trường lúa japonica đang bị sức ép cạnh tranh ngày càng lớn hơn. Những nước trồng lúa với trợ cấp lớn đang gặp nhiều chống đối. Trung Quốc là nước sản xuất lúa japonica nhiều nhất thế giới với khoảng 56 triệu tấn lúa mỗi năm, trong khi Mỹ quốc đạt đến trình độ kỹ thuật cao nhứt và Nhật bản sản suất gạo với giá thành cao nhứt. So sánh với sản xuất lúa của vùng nhiệt đới, giá thành của sản xuất lúa ở Nhựt Bổn, châu Âu, Mỹ và Đại Hàn cao hơn hết. Chế độ trợ cấp sản xuất của các nước này cũng cao hơn, nhứt là Nhựt Bổn. Do đó, nếu các nước này cắt bớt bao cấp, diện tích trồng lúa japonica sẽ giảm bớt ngay, trừ phi họ phải tranh thủ ráo riết để tăng năng suất làm hạ bớt giá thành. Đây là vấn đề lớn của các nước tiến bộ trong lãnh vực phát triển nông nghiệp, vừa cổ võ chiều hướng toàn cầu hóa thị trường kinh tế vừa bảo vệ sản xuất nông nghiệp nội địa để giữ mức sống cân đối trong xã hội và đáp ứng nhu cầu chính trị địa phương của nghiệp đoàn nông dân.  

Chau Âu đã đưa ra chính sách “giá lúa ổn định” cho thị trường thương mại mỗi năm. Hơn nữa thuế nhập khẩu và hoàn trả tiền cho xuất khẩu đã được thành lập, nhằm khắc phục sự chênh lệch giữa giá cả ở Chau Âu và thế giới (Dino, 1994). Những chánh sách tương tự dùng thuế suất và biện pháp khuyến khích để ổn định giá cả cũng được thấy ở Mỹ, Nhat Ban và Đại Hàn.

 

Vòng thảo luận thương mại Uruguay (Uruguay Round) đã đưa đến thỏa thuận gọi tắt là GATT - Hiệp Ước Thương Mại và Thuế Suất vào năm 1994. Hiệp Ước này đã dẫn đến mở cửa cho lúa gạo nhập vào các nước Nhat Ban và Đại Hàn cũng như làm tăng áp lực đối với Đài Loan và Trung Quốc để nhượng bộ tương tự.  Người ta tiên đoán rằng một khi Nhat Ban , Đại Hàn và Đài Loan bắt đầu nhập khẩu gạo, dĩ nhiên gạo japonica, giá gạo thế giới sẽ tăng lên từ 7 đên 30%, tùy theo mức độ thay thế tiêu thụ của thế giới (Phillips et al., 1994). Các nhà xuất khẩu trên thế giới đặc biệt chú ý đến loại gạo japonica và các loại gạo dài và thơm. Tuy nhiên, trên thực tế sau hơn 7 năm áp dụng Hiệp Ước GATT, giá lúa gạo trên thế giới vẫn còn tiếp tục sút giảm vì số lượng gạo nhập khẩu của các nước này vẫn còn yếu chưa đủ khả năng nâng cao giá lúa gạo quốc tế. Ngoài ra, thị trường tiêu thụ gạo japonica của Nhat Ban rất khó khăn về chất lượng, phải hội đủ các tiêu chuẩn đặc biệt của họ. Thái Lan đã xuất khẩu số lượng gạo Jasmine đáng kể qua Nhat Ban . Basmati của Pakistan và An Độ cũng đang được Nhat Ban thu mua.

 

Theo Hiệp Ước GATT, các nước như Nhat Ban, Đại Hàn, Liên Hiệp Châu Âu phải nhập khẩu gạo với số lượng tối thiểu mỗi năm. Nhựt Bổn phải nhập 4% nhu cầu nội địa trong 1995 và 8% kể từ 2000. Đại Hàn được đặc cách cho phép nhập gạo tối thiểu từ 51.000 tấn (1% nhu cầu gạo trong nước) trong 1995 cho đến 205.000 tấn (4%) trong 2004. Trung Quốc đang thủ lợi trong xuất khẩu gạo japonica đến hai thị trường béo bở này. Riêng Liên Âu phải mở cửa thị trường cho gạo nhập đến 3% trong 1995 và 5% trong 2000. Tuy nhiên, Cộng Đồng đã thu mua từ thế giới trên 10% số lượng tiêu thụ của họ (Faure and Mazaud, 1996).

 

 PHÁT TRIỂN TRỒNG LÚA JAPONICA TRÊN THẾ GIỚI

Các nhà khoa học và phát triển về lúa gạo trên thế giới đang phải đối phó với nhiều thử thách trong cả hai lãnh vực khảo cứu và sản xuất. Họ đang nghiên cứu về khả năng chống kháng bệnh cháy lá, bệnh cháy bẹ (sheath blight), sâu nước (water weevil), v.v., chống chịu nhiệt độ thấp (lạnh) và các loài cỏ dại, nhứt là lúa đỏ.  Lúa đỏ (dại) là trở ngại hàng đầu cho các nước áp dụng cơ giới hóa với phương pháp sạ thẳng.  

Một vấn đề quan trọng khác về chu kỳ sinh trưởng của giống lúa. Thường lúa japonica có cảm quang cao nên chu kỳ sinh trưởng rất dài từ 160 đến trên 200 ngày, nếu được trồng sớm. Giống lúa có chu kỳ sinh trưởng dài tiêu thụ lượng nước lớn, có thể gặp nhiều sâu bệnh; nhưng có tiềm năng năng suất cao. Ngược lại, giống lúa chín sớm có thể tiết kiệm nước tưới và làm giảm giá thành sản xuất, nhưng tiềm năng năng suất có thể kém đi. Do đó, tùy theo mục tiêu của mỗi nước, các nhà nghiên cứu lai tạo các giống lúa có chu kỳ sinh trưởng khác nhau. ở Ai Cập, nước tưới rất hiếm vì phải cạnh tranh với các loại hoa màu khác và kỹ nghệ, nên các chuyên gia cố gắng lai tạo ra các giống lúa sớm hơn từ 15 đến 20 ngày, so với các giống lúa truyền thống. Trong khi ở California, các chuyên gia cũng chú ý đến vấn đề nước, nhưng họ không nuốn hy sinh năng suất. Cho nên, các giống lúa hiện nay có chu kỳ sinh trưởng trung bình độ 140-160 ngày và năng suất cao.   

 

Vấn đề chất lượng, chủ yếu gạo không bạc bụng, năng suất xay chà (hạt nguyên) cao, nhiều dinh dưỡng (protein, sắt), hình dạng và mùi thơm thích hợp cho các nhóm tiêu thụ khác nhau, được dành ưu tiên cao. Các giống lúa phải hội đủ vừa chất lượng tốt vừa có đặc tính chống kháng một số sâu bệnh quan trọng, và chống chịu nhiệt độ thấp (<15oC). Các cuộc nghiên cứu cần chú ý nhiều hơn đến hiệu năng sử dụng phân hóa học và nước. Hơn hết, cần quan tâm nhiều hơn về sử dụng nước của cây lúa, nhất là về phương di truyền. Cây lúa không cần sử dụng nhiều nước như hiện nay, khoảng 4.000 lít để sản xuất một kilô lúa, mà có thể cho năng suất cao với ít nước dùng như cây lúa mì chẳng hạn. Nhiều chuyên gia đang nỗ lực nghiên cứu loại lúa thoáng khí (aerobic rice), nhưng chưa có kết quả đáng kể.

 

Các nghiên cứu có tính cách chiến lược cũng đang được lưu ý, chẳng hạn về lúa lai, siêu lúa và công nghệ sinh học về lúa. Nhat Ban (Công ty Mitsui) cũng có chương trình lúa lai cho lúa japonica, nhưng gặp phải hai trở ngại lớn, đó là chất lượng kém và ưu thế lai thấp giữa các giống lúa japonica với nhau. Ưu thế lai của các giống lúa japonica lai bình quân chỉ đạt đến 10%, trong khi lúa indica lai đạt từ 15 đến 20%. Vấn đề lai tạo siêu lúa đã thực hiện được ở Nhat Ban. Trong một chương trình nghiên cứu trong vòng 15 năm, các chuyên gia Nhựt đã tạo ra giống lúa có năng suất cao đến 14,7 tan/ha , nhưng chất lượng rất kém. Cũng nên nói thêm ở đây, các nhà khoa học chưa thành công trong vấn đề lại tạo giống siêu lúa indica, mặc dù đã bỏ ra rất nhều tài nguyên trong gần 20 năm vừa qua, vì còn gặp khó khăn về phương diện sinh lý học - còn quá nhiều hạt lép và thời kỳ làm đầy hạt còn tương đối ngắn ở khí hậu nhiệt đới (30-35 ngày).

 

Công nghệ sinh học về lúa tiến bộ khá nhanh. Bản đồ genome của lúa japonica đã được công bố hoàn tất vào cuối 2002 bởi Dự án Genome Lúa (japonica) Quốc Tế do Nhat Bản dẫn đầu, với sự tham gia của 10 quốc gia. Bản đồ genome này sẽ giúp cho các nhà lai tạo sớm hoàn tất công trình nghiên cứu cải thiện giống, đặc biệt về phương diện di truyền cũng như các đặc tính nông học. Hiện nay, đã có nhiều giống lúa biến đổi gen chống sâu ống vàng (yellow stem borers), chống chịu thuốc diệt cỏ, kháng bệnh cháy bẹ, v.v. còn đang thử nghiệm. Gạo vàng cũng đã được sáng tạo để cung cấp tiền sinh tố A trong năm 2001, nhưng đặc tính này còn đang được chuyển vào cây lúa có năng suất cao để nông dân có thể áp dụng. Lúa vàng đang được thử nghiệm ở An Độ, Philippines, Việt Nam,... trước khi phổ biến. Các nhà khoa học đang sử dụng công nghệ sinh học để tạo khám phá mới về năng suất và chất lượng lúa gạo. Họ đang cố gắng nâng tiềm năng năng suất của lúa japonica lên 16-17 tấn/ha bằng tăng trọng lượng chất khô, hiệu năng quang hợp lớn (cây lúa C4) và phân phối các chất tinh bột trong cây lúa hữu hiệu hơn.  

 

Mặc dù nhu cầu khảo cứu lúa japonica rất lớn, không có một viện hoặc trung tâm thí nghiệm quốc tế để điều hợp các hoạt động trong lãnh vực này. Có lẽ các nước trồng lúa japonica có trình độ nghiên cứu cao và tài nguyên dồi dào nên họ không có nhu cầu khảo cứu chung. Dù thế, các nước ở vùng Địa Trung Hải đã cùng nhau hợp lại ở thành phố Arles thuộc Pháp vào năm 1990 để thành lập một mạng lưới hợp tác khảo cứu lúa Địa Trung Hải (MED-Rice) cho vùng, dưới sự hỗ trợ kỹ thuật của cơ quan FAO. Mạng lưới hợp tác nghiên cứu này gồm có 12 nước và hoạt động trong 6 lãnh vực như sau: Nông học, Cải tiến giống lúa, Công nghệ sinh học về lúa, Hậu thu hoạch lúa và Kinh tế thị trường. Ngoài ra, các chuyên gia về lúa japonica còn tổ chức Hội Nghị Quốc Tế về lúa JAPONICA trong 4-5 năm một lần. Hội nghị quốc tế lần thứ nhứt được tổ chức ở Yanco, úc vào năm 1994, lần thứ hai ở Sacramento, California, Mỹ vào năm 1999; lần thứ ba ở Uruguay vào năm 2002.  Hội Nghị lần thứ tư sẽ được tổ chức ở ý vào năm 2006.

 

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ so với indica, lúa japonica còn tạo ra nhiều thử thách lớn cho các chuyên gia lúa gạo thế giới. Chủ yếu là làm thế nào để tăng gia năng suất kinh tế của vụ lúa, sử dụng đất đai và sức lao động hữu hiệu, trong khi bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm an ninh lương thực. Điều này có thể thực hiện được bằng cách triển khai kỹ thuật nông nghiệp chính xác, thu hẹp khoảng cách giữa năng suất tiềm năng và năng suất nông dân, cải tiến hiệu năng hiện tại của nông dân và nâng cao năng suất trần hiện nay qua tăng gia trọng lượng chất khô và chỉ số thu hoạch. Các khó khăn về khí hậu cũng như yếu tố kinh tế-xã hội là những giới hạn khác cho sự bành trướng sản xuất lúa japonica.

 
  • Nhiệt độ: Nhiệt độ thấp ở miền ôn đới gây ra nhiều hạt phấn bất thụ và nhiệt độ cao ở vùng nhiệt đới ảnh hưởng đến tăng trưởng và năng suất của lúa japonica. Nhiệt độ thấp dưới mức chịu đựng tối thiểu trong giai đoạn mọc mầm và mạ non sẽ ảnh hưởng đến tình trạng lúa phủ mặt đất ruộng, hay quần thể lúa. Nhiệt độ thấp xảy ra lúc thành lập hạt phấn của bông lúa sẽ gây ảnh hưởng đến mật độ thụ phấn (hạt lép). Được biết rằng lúa japonica có thể chịu đựng nhiệt độ thấp cho đến một mức độ nào đó, nhưng sẽ cho năng suất kém và có thể dễ nhiểm bệnh cháy lá. Cho nên, các chương trình cải thiện giống lúa thường đặt trọng tâm vào sức nẩy mầm của hạt lúa và bách phân hạt lép do bất thụ phấn. Trong năm 1993, nhiệt độ mùa hè xuống đến 11oC, gây ra bệnh cháy lá trầm trọng và mức độ bất thụ phấn cao ở nước ý, Nhựt Bổn và Đại Hàn . Nhiệt độ thấp trong giai đoạn sinh sản của cây lúa làm ảnh hưởng đến năng suất cuối cùng, cũng được ghi nhận ở California, Mỹ, úc và miền nam Brazil.

 
  • Nước tưới tiêu: Sau nhiệt độ, nước là yếu tố làm giới hạn trồng lúa trong các miền ôn đới. Lúa thường được trồng trong nước ngập thường trực từ sau hạt mọc mầm cho đến trước khi thu hoạch. Tình trạng liên tục ngập nước trong ruộng lúa giúp kiểm soát được cỏ dại, làm tăng gia chất dinh dưỡng từ đất, làm giảm bớt mất mát chất phân ammonium nhờ điều kiện yếm khí. Tuy nhiên, hệ thống trồng lúa ngập nước này đòi hỏi cung cấp số lượng nước to lớn từ 15.000 đến 20.000 m3 nước, mà phần lớn bị thất thoát vì chảy tràn, thẩm thấu và bốc hơi vào mùa hè. Nguồn nước ngày càng trở nên hiếm vào mùa hè do rất ít mưa ở các vùng ôn đới, sự cạnh tranh của các loại hoa màu khác có trị giá kinh tế cao và các lãnh vực khác (kỹ nghệ, môi trường...) hấp dẫn hơn.  

 

Lúa chỉ được trồng ở những nơi có nhiều nước vào mùa hè, mặc dù gặp phải những điều kiện khí hậu không thuận tiện lắm như nhiệt độ thấp vào đêm và buốt giá vào đầu mùa cũng như cuối vụ. Thật vậy, lúa japonica chỉ được trồng ở vùng đồng bằng thuộc thung lũng Bo ở miền bắc nước ý, vì có nhiều nguồn nước do sông rạch cung cấp. Miền nam ý có khí hậu ấm áp hơn, nông dân không trồng lúa vì thiếu nước. Cũng vậy, canh tác lúa tập trung ở miền bắc California thuộc tỉnh Yuba, nơi có nhiều nước do băng tuyết tan rả vào mùa hè và được chứa ở các hồ nhân tạo lớn trên miền núi Sierra. ở Ai cập, diện tích trồng lúa bị chính phủ giới hạn tối đa 500.000 ha mỗi năm vì nguồn nước còn phải phân phối cho các hoa màu khác như bông vải, bắp và rau cải. Tuy nhiên, diện tích lúa của nước này vẫn vượt khỏi giới hạn trên vì canh tác lúa gạo còn đem lợi tức cao. ở vùng Địa Trung Hải, vũ lượng bình quân hàng năm chỉ từ 275 đến 900 mm, với hơn 65% nước được cung cấp từ những trận mưa vào mùa đông. Năm nào mưa ít sẽ thiếu nước để cung cấp cho những nơi trồng lúa và diện tích trồng lúa bị sút giảm. Chẳng hạn, vào năm 1993, châu Âu có hạn hán, diện tích trồng lúa ở Tây Ban Nha bị giảm từ 83.000 ha trong 1992 xuống 45.000 ha trong 1993, và từ 27.000 ha xuống 10.000 ha ở Bồ Đào Nha.

 
  • Đất đai:  Đất ruộng trồng lúa có khả năng chứa nước vào mùa mưa và bảo vệ chống xói mòn trên những ruộng dốc, bằng khai thác ruộng bậc thang và trồng lúa theo đồng cao độ. Triển vọng bành trướng diện tích trồng lúa japonica ôn đới  trên thế giới, nhứt là ở châu á và châu Mỹ La Tinh không sáng sủa lắm vì khí hậu bất thuận lợi cho loại lúa này. Nếu diện tích trồng loại lúa này tăng, chủ yếu do thay thế loại lúa hoặc hoa màu khác trong vùng ôn đới và cận nhiệt đới mà thôi. Trái lại, đất trồng lúa có khuynh hướng giảm bớt như đã thấy ở Trung Quốc, Nhựt Bổn, Đại Hàn và châu Âu do khuyếch trương đô thị hóa, kỹ nghệ hóa và nhứt là thi hành Hiệp Ước GATT. Trong tương lai, nhu cầu lúa japonica sẽ được thỏa mãn bằng cách trồng lúa trên đất ít hơn, nghĩa là dùng giống có năng suất tiềm thế cao và quản lý canh tác hữu hiệu và chính xác hơn.

 
  • Vấn đề sâu bệnh: Canh tác lúa ở vùng ôn đới gặp nhiều thuận lợi hơn ở vùng nhiệt đới vì lúa được trồng vào mùa hè khô khan, nắng nhiều, ngày dài đêm mát, cho nên bệnh và nhứt là côn trùng ít xuất hiện.  Dù thế, sản xuất lúa japonica vẫn còn bị phá hại bởi bệnh cháy lá, thối bẹ, bọ nước, cỏ dại và lúa đỏ. Một cách tổng quát, vấn đề bảo vệ mùa màng cho lúa japonica không phải là công tác lớn, ngoại trừ cỏ dại, so với trồng lúa indica trong vùng nhiệt đới.

 
  • Năng suất lúa japonica: Năng suất tiềm thế và năng suất bình quân của lúa japonica luôn cao hơn lúa indica vì khí hậu và môi trường thuận lợi hơn. Lúa japonica có năng suất bình quân từ 6-8 t/ha, năng suất tiềm thế từ 13 đến 15 t/ha; trong khi lúa indica chỉ 4-6 t/ha và 10-11 t/ha, theo thứ tự.  Năng suất bình quân cao của lúa japonica đạt đến rất sớm, khoảng 5-6 t/ha vào thập niên 1960s-70s, sau đó ngừng đọng cho đến nay tại một số nước như ý, Pháp, Bồ Dào Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhựt Bổn, v.v. Tuy nhiên, một số nước khác, như úc, Ai Cập, Mỹ (California), Hy lạp đã thực hiện được những tiến bộ đáng kể.  Năng suất bình quân đã đạt đến 7, 6 tấn/ha ở Mỹ (9 t/ha ở California), 8 t/ha ở Hy Lạp, 8,2 t/ha ở úc và 9,5 t/ha ở Ai Cập trong năm 2003. Cho nên, khoảng cách năng suất giữa nông dân và trung tâm thí nghiệm của lúa japonica còn khá lớn ở một số nước (Bảng 2).

 
  • Vấn đề kinh tế xã hội: Diện kinh tế và xã hội của ngành sản xuất lúa japonica cũng nên được chú ý đến vì giới nông dân có ảnh hưởng chính trị lớn trong xã hội. Họ là thành phần giàu trong xã hội, có trang trại từ vài chục đến hàng ngàn hecta và trình độ văn hóa và kỹ thuật cao. Nông dân thường tự mình đi tìm tòi, học hỏi và tiếp cận với các kỹ thuật tân tiến. Họ có đầu óc phân tích kinh kế hiện đại với các phương tiện thông tin hiện đại so với các nông dân trồng lúa indica ở những nước kém tiến bộ. Nhựt Bổn và Đại Hàn đang gặp khó khăn về thiếu nhân công và lo ngại về lớp nông dân già mà không có giới trẻ sẵn sàng thay thế.

 

    Ngoài ra, sản xuất lúa japonica có giá thành cao vì hệ thống sản xuất hoàn toàn cơ giới và tân tiến so với lề lối sản xuất truyền thống của lúa indica. Nền nông nghiệp chính xác đã được phát động mạnh mẽ vào thập niên 1990s nhằm giải quyết vấn đề lợi tức kinh tế, hiệu năng và môi trường .Lúa japonica không có thị trường tiêu thụ lớn vì đa số các nước trồng lúa japonica không xem lúa gạo là thức ăn căn bản của họ, ngoại trừ Triều Tiên, Nhat Ban, Trung Quốc và Ai Cập. Sự giảm sút hoặc hủy bỏ trợ cấp, bao che của chính phủ sẽ làm thay đổi hoàn toàn hệ thống trồng lúa ở các vùng ôn đới. Những nước đang ở trong thời kỳ chuyển tiếp ở Trung á và Đông Âu đã và đang gặp phải các vấn đề kinh tế khó khăn, do hệ thống quản lý sản xuất kém, giá lúa nhập thấp và gạo viện trợ tràn đầy ở thị trường nội địa. Cho nên, diện tích trồng lúa của các nước này giảm sút rõ rệt.  Hungary, chẳng hạn, diện tích trồng lúa giảm từ 13.000 ha trong 1987-88 xuống 2.000-3.000 ha trong 1997-99. Các nước khác trong vùng đều có cùng khuynh hướng thuyên giảm như thế.   

 
  • Vấn đề môi trường: Trong canh tác lúa japonica, sử dụng thuốc sát trùng và thuốc diệt cỏ được quản lý tương đối hữu hiệu, theo đúng với các điều kiện và luật lệ đã được ban hành; nên các loại hóa chất nông nghiệp này ít gây ảnh hưởng đến môi trường. Tuy nhiên, vấn đề đốt cháy rơm rạ ở ngoài đồng còn làm ô nhiễm môi trường ở các nước trồng lúa japonica, đặc biệt ở Mỹ (California) và Ai Cập. ở California, Chính Phủ Tiểu Bang đã ban hành luật lệ để giảm dần tệ nạn đốt rơm rạ sau khi thu hoạch. Vấn đề sản xuất lúa bền vững ngày càng trở nên quan trọng đối với các nước tiến bộ. Chính sách tăng gia sản xuất lúa đòi hỏi nông dân phải áp dụng biện pháp mới và các kỹ thuật thích hợp, đồng thời phải chú ý đến ảnh hưởng môi trường và lợi ích kinh tế. Hơn nữa, cần có các cố gắng liên tục để làm giảm bớt các loại khí thoát từ ruộng ngập nước, gây ảnh hưởng nhà kính trên thế giới, chủ yếu khí methane, ammonium và nitrous oxide.

 

Đối với giới tiêu thụ, sử dụng quá nhiều chất nông hóa: thuốc sát trùng và phân hóa học có thể làm ảnh hướng đến sức khoẻ con người; cho nên, gần đây các loại nông sản hữu cơ gồm cả lúa gạo đang được quan tâm đến từ các giới có lợi tức cao và thành phần hòa bình xanh.

 

      Có thể nói rằng lúa japonica ôn đới là “lúa của nhà giàu” vì được trồng trong nhiều nước tiến bộ, còn lúa indica là “lúa của nhà nghèo’ được trồng ở các nước đang phát triển hoặc chậm tiến. Dù thế, lúa japonica vẫn gặp nhiều khó khăn từ kỹ thuật cho đến kinh tế-xã hội, và môi trường. Thách thức lớn nhứt hiện nay đối với sản xuất lúa japonica là vấn đề nâng cao tiềm năng năng suất lúa, nhiệt độ thấp, nước tưới giới hạn, năng suất kinh tế bền vững và chính sách bao cấp. Những nỗ lực trong hợp tác nghiên cứu và khai thác triệt để thành quả của công nghệ sinh học cần được khuyến khích để góp phần giải quyết các vấn đề nêu trên. Tương lai của ngành sản xuất lúa japonica ôn đới tùy thuộc rất nhiều vào mức độ tiến hóa của khuynh hướng toàn cầu, thi hành Hiệp Ước GATT và các cuộc đàm phán kinh tế thế giới đang xảy ra. Loại lúa này đang mở ra một thị trường mới cho các nước xuất khẩu gạo thế giới, mà hiện nay Trung Quốc đang thủ lợi nhiều hơn hết.  

 

Vấn đề kinh tế thị trường trong khung GATT và sự suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên dành cho sản xuất lúa japonica cần được giải quyết thỏa đáng với các chính sách mang tính chất tiến bộ và trong sáng ở các nước sản xuất. Ngành khảo cứu và áp dụng các kỹ thuật hiện đại phải nhắm vào giảm giá thành, nâng cao hiệu năng và làm lành mạnh môi trường trong nền nông nghiệp chính xác. Cho nên, cần có sự hợp tác chặt chẽ qua các hình thức liên kết có lợi cho cả đôi bên giữa các người sản xuất, biến chế, thương mại, khảo cứu và các nhà làm chính sách trong nước. Các hợp tác cấp vùng và quốc tế trong vấn đề nghiên cứu và phát triển lúa japonica cần được cổ súy và đẩy mạnh hơn nữa trong khuôn khổ của các tổ chức quan trọng hiện hữu như Mạng Hợp Tác Nghiên Cứu Lúa Địa Trung Hải (MED-Rice), Hội Nghị Lúa Ôn Đới và ủy Ban Lúa Gạo Quốc Tế (IRC) của Tổ Chức FAO.

 

CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ VÀ THƯƠNG MẠI PHÚ THÁI - HÀ NỘI

                                  Sưu tầm và biên soạn lại